Có lần tôi nói chuyện với cha mẹ và nhận được một câu hỏi: tại sao người ta lại chịu bỏ một số tiền lớn như vậy vào công ty của con, trong khi làm ăn chưa chắc đã có lời? Tôi phải mất một lúc lâu để giải thích cho cha mẹ hiểu rằng, trong thế giới startup, các quỹ đầu tư mạo hiểm không đầu tư để đợi lấy vài đồng lời cuối năm. Mà họ muốn là exit, hay còn gọi là thoái vốn ở vòng sau.
Bản chất của một startup là cần tiền để đổi lấy sự tăng trưởng. Để làm được điều đó, startup phải gọi vốn qua rất nhiều vòng, từ pre-seed, seed rồi series A, B, C cho đến các vòng lớn hơn. Ở mỗi vòng, công ty sẽ phát hành thêm cổ phần, định giá công ty sẽ được đẩy lên. Các nhà đầu tư vào trước sẽ chờ công ty phát triển đến một quy mô đủ lớn để thoái vốn thu lợi nhuận bằng cách bán lại phần sở hữu của mình. Đỉnh điểm của cuộc chơi này, cái đích cuối cùng mà mọi startup và quỹ đầu tư đều hướng tới, chính là exit thông qua phát hành cổ phiếu hay còn gọi là IPO. Hoặc có cách khác cũng khá ổn là bán lại cho một bên khác - M&A.
Khi nhìn thị trường Việt Nam, chúng ta có rất nhiều startup tiềm năng, thậm chí có những cái tên đã trở thành kỳ lân với định giá tỷ đô. Dù vậy tới bây giờ chỉ có VNG là được đưa cổ phiếu lên sàn. Mà thực tế, họ cũng chỉ mới giao dịch ở UPCoM, một sàn dành cho các công ty đại chúng chưa niêm yết, với quy mô và mức độ thanh khoản hoàn toàn không thể so sánh với HOSE hay HNX. Theo tôi được biết, để một công ty lên các sàn lớn thì phải không có lỗ trong mấy năm. Mà ở một startup chuyện không có lỗ là cực kỳ hiếm.
Nguyên nhân của sự bế tắc này nằm ở những rào cản rất lớn về luật pháp và chính sách. Các quy định về đầu tư quốc tế, luân chuyển tiền và các giới hạn về tỷ lệ sở hữu nước ngoài khiến các quỹ đầu tư quốc tế cực kỳ e ngại khi phải đầu tư vào một pháp nhân Việt Nam. Để khắc phục cái này thì gần như 100% các startup Việt khi muốn gọi vốn triệu đô đều phải qua Singapore mở một công ty holding, sau đó dùng pháp nhân Singapore đó sở hữu ngược lại công ty tại Việt Nam. Điều này có nghĩa là trên giấy tờ, dòng tiền đầu tư thực chất chảy vào Singapore chứ không phải Việt Nam.
Giờ mà phân tích thêm về rào cản luật pháp hay chính sách chắc tôi phải cần đến góc nhìn của một chuyên gia hoặc mất cả chục năm nghiên cứu. Nhưng nôm na có thể nói rào cản nó tới từ cái căn bản nhất: Việt Nam đang vận hành theo hệ thống dân luật (Civil Law), trong khi Singapore áp dụng hệ thống thông luật (Common Law). Điểm mấu chốt là các quỹ đầu tư trên thế giới đã quá quen với Common Law do nó mang tính án lệ, linh hoạt và an toàn khi xảy ra tranh chấp. Chỉ cần cái cơ bản này thôi đã thấy khó, thậm chí chưa cần bàn sâu thêm đến hàng loạt những rào cản khác như chính sách thuế, thủ tục giấy tờ hành chính, hay sự cứng nhắc trong các quy định phát hành cổ phần.
Cách exit còn lại của các founder là M&A. Nhưng khi bán, bên mua lại thường là các tập đoàn công nghệ hoặc quỹ của nước ngoài. Kết cục là bao nhiêu chất xám, dữ liệu người dùng, công nghệ và cả những tài năng cuối cùng đều bị thâu tóm. Đây là một lỗ hổng cực kỳ lớn trong hệ sinh thái khởi nghiệp nước nhà.
Tôi luôn kỳ vọng các nhà làm chính sách sẽ nhìn nhận trực diện vào vấn đề này. Đã đến lúc chúng ta cần nới lỏng các quy định, tạo ra một cơ chế cởi mở hơn và tiến tới mở một sàn giao dịch chứng khoán chuyên biệt dành riêng cho các startup công nghệ, tương tự như cách sàn NASDAQ của Mỹ đang vận hành. Đây sẽ là điều tôi luôn ao ước, hy vọng sẽ có một ngày tôi sẽ nhìn thấy mã cổ phiếu TSR.
Bình luận ()